VN-Index: 898.19 +1.04 +0.12%

GTGD : 2,638.8 tỷ VNĐ

HNX-Index: 103.01 +2.00 +1.98%

GTGD : 481.1 tỷ VNĐ

Trang tin tổng hợp tài chính Việt Nam

Tác động hai mặt của CPTPP đối với bảo hiểm tiền gửi

Tự do hóa tài chính trong khuôn khổ CPTPP rất cao. Theo đó, nhà cung cấp dịch vụ của một nước CPTPP có thể cung cấp dịch vụ tài chính mới tại thị trường của nước CPTPP khác nếu các công ty trong nước của thị trường này được phép cung cấp dịch vụ đó.
16:04 06/09/2018

Với 20 điều khoản tạm hoãn so với TPP (chủ yếu ở nhóm nghĩa vụ được tạm hoãn thực thi do Mỹ đàm phán) và chỉ được kích hoạt lại về sau với sự đồng ý của 11 nước, có thể thấy CPTPP kế thừa gần như toàn bộ nội dung của TPP.

Đặc biệt, nội dung về cam kết mở cửa thị trường được giữ nguyên. Đây là tiến bộ rất lớn trong bối cảnh xu hướng bảo hộ quốc tế tăng lên như hiện nay. Các quy tắc liên quan đến hàng rào phi thuế quan, hàng rào kỹ thuật phi thương mại, cam kết minh bạch trong mua sắm công đều được duy trì như TPP. Với tinh thần tạm hoãn 20 nghĩa vụ trên, CPTPP được xem là phù hợp với Việt Nam hơn TPP về cả lộ trình và chi phí…

Cũng như trong TPP, các cam kết thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính của CPTPP hướng tới đẩy mạnh sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính ở các nước thành viên, trong đó có Việt Nam.

Cụ thể, CPTPP mở rộng cam kết về mở cửa thị trường đi kèm với cơ chế minh bạch hóa tạo cơ hội tiếp cận thị trường tốt hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài; áp dụng cơ chế bảo hộ đầu tư nhằm đảm bảo đầy đủ lợi ích của các nhà đầu tư; đảm bảo không gian chính sách để thực hiện các biện pháp quản lý thận trọng nhằm xây dựng một nền tài chính vĩ mô ổn định.

So với cam kết WTO, Việt Nam cam kết mở cửa bổ sung đối với một số loại hình dịch vụ mới như: mở cửa dịch vụ nhượng tái bảo hiểm qua biên giới; dành đối xử quốc gia cho các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài đối như xử lý dữ liệu tài chính qua biên giới; dịch vụ tư vấn và các dịch vụ phụ trợ qua biên giới liên quan tới giao dịch tài khoản tự doanh hoặc tài khoản của khách hàng; mở cửa dịch vụ quản lý danh mục đầu tư qua biên giới.

Tự do hóa tài chính trong khuôn khổ CPTPP rất cao. Theo đó, nhà cung cấp dịch vụ của một nước CPTPP có thể cung cấp một dịch vụ tài chính mới tại thị trường của nước CPTPP khác nếu các công ty trong nước của thị trường này được phép cung cấp dịch vụ đó.

Các nước thành viên của TPP phải ban hành quy định trường hợp ngoại lệ đối với một số quy tắc trong hai phụ lục đính kèm theo TPP để phù hợp với điều kiện của từng nước. Các biện pháp hiện hành quy định Bên tham gia phải có nghĩa vụ không áp đặt thêm bất kỳ biện pháp chế tài nào khác trong tương lai, cũng như tuân thủ thỏa thuận tự do hóa trong các hoạt động sau này, chính sách quy định Bên tham gia có đầy đủ quyền tự quyết trong tương lai.

Các nước TPP được quyền chủ động thực hiện những biện pháp củng cố tính ổn định tài chính và tính thống nhất của hệ thống tài chính. Bao gồm, những quy định ngoại lệ mà các quốc gia thành viên xem xét một cách thận trọng và những quy định ngoại lệ về biện pháp không phân biệt đối xử trong quá trình thiết lập, thực thi chính sách tiền tệ hay các chính sách khác.

Việt Nam cũng như các nước được áp dụng các ngoại lệ cần thiết, gồm các biện pháp thận trọng bảo vệ an ninh quốc gia, quyền lợi và thông tin cá nhân; chính sách về tỷ giá, tiền tệ nhằm đảm bảo môi trường đầu tư ổn định, an toàn. Tuy nhiên, các nước thành viên phải tuân thủ nguyên tắc “chỉ tiến không lùi” trong việc điều hành chính sách đối với các ngành dịch vụ. Theo đó, nếu Việt Nam điều chỉnh, sửa đổi quy định pháp luật trong nước theo hướng tự do hóa hơn, thông thoáng hơn so với mức cam kết ban đầu thì sẽ tự động trở thành nghĩa vụ ràng buộc, không được ban hành chính sách quay trở lại mức cam kết ban đầu.

 

Việt Nam cũng như các nước được áp dụng các ngoại lệ cần thiết, gồm các biện pháp thận trọng bảo vệ an ninh quốc gia, quyền lợi và thông tin cá nhân; chính sách về tỷ giá, tiền tệ nhằm đảm bảo môi trường đầu tư ổn định, an toàn.

 

Thực thi TPP, trong đó có các cam kết về dịch vụ tài chính nêu trên sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về cạnh tranh tại Việt Nam. Khi môi trường kinh doanh được đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và không phân biệt đối xử sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, kinh doanh tại Việt Nam.

Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cũng được đảm bảo khi tham gia cạnh tranh trên thị trường các thành viên khác; giúp cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hình thành, thấm nhuần văn hóa cạnh tranh, nâng cao nhận thức về cạnh tranh lành mạnh và có ý thức tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; tạo điều kiện nâng cao trình độ và năng lực của cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam thông qua các cơ chế về hợp tác, trao đổi thông tin, tham vấn về những vấn đề liên quan đến cạnh tranh giữa các nước thành viên trong quá trình thực thi cam kết.

Tuy nhiên, thực thi CPTPP cũng đặt ra thách thức đối mặt với nhiều vụ việc cạnh tranh có tính chất phức tạp, hành vi phản cạnh tranh đa dạng và tinh vi trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng trong thời gian tới.

Đồng thời, thách thức cũng đến từ những hạn chế của Việt Nam, như thị trường vốn có quy mô còn quá nhỏ, thanh khoản yếu, thiếu hấp dẫn, chưa đủ khả năng thu hút mạnh các dòng vốn đầu tư nước ngoài, nhất là các dòng vốn lớn. Trong khi, quy mô vốn của thị trường tiền tệ còn chưa tương xứng, nhất là quy mô vốn của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) còn nhỏ; quy mô thị trường bảo hiểm còn ở mức khá nhỏ, tỉ lệ doanh thu phí trên GDP mới chỉ đạt mức xấp xỉ 2% so với mức trung bình 3,2% trong khu vực ASEAN và 6,5% trên toàn thế giới. Việt Nam vẫn còn tồn tại tình trạng mất cân đối giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ dễ dẫn đến nguy cơ mất thanh khoản của ngân hàng. Nợ xấu và xử lý nợ xấu còn nhiều bất cập; lòng tin vào quản trị và chất lượng dịch vụ hệ thống NHTM còn thấp.

Vẫn còn sự mất cân đối về cấu trúc giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu; mất cân đối giữa hoạt động tín dụng và các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng; mất cân đối giữa thị trường vốn ngắn hạn và dài hạn; bất hợp lý về cơ cấu giữa tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư; trình độ thị trường còn ở mức thấp, ý thức tuân thủ luật pháp còn hạn chế, chế tài xử lý vi phạm chưa có tính răn đe cao. Các tác động sâu của CPTPP đến nền kinh tế sẽ tùy thuộc vào sự chuẩn bị và khả năng khai thác tính hai mặt trong quá trình triển khai Hiệp định này của Việt Nam…

 

TS. Nguyễn Minh Phong

 

Đặc biệt, việc cho phép hoạt động của các tổ chức tái bảo hiểm tiền gửi nước ngoài tại Việt Nam theo tinh thần của Hiệp định CPTPP sẽ mang lại nhiều cơ hội và thách thức mới cho vấn đề bảo hiểm tiền gửi của hệ thống ngân hàng Việt Nam, theo đó:

Một mặt, sự mở rộng cửa cho các tổ chức tái bảo hiểm ngoại này sẽ làm tăng cơ hội lựa chọn người cung ứng dịch vụ bảo hiểm tiền gửi có chất lượng cho các NHTM và người dân gửi tiền; tăng khả năng bảo vệ quyền lợi và sự ổn định chung, chống sốc đổ vỡ hệ thống, duy trì lòng tin trên thị trường. Đến lượt mình, điều này sẽ giúp tăng huy động tiền gửi với quy mô lớn và thời hạn gửi dài hơn; giảm thiểu tình trạng rút tiền ồ ạt hoặc gửi tiền ngắn hạn kiểu phòng ngừa rủi ro của người gửi tiền…

Mặt khác, sự cạnh tranh sẽ gia tăng mạnh mẽ hơn cả về phía cơ quan bảo hiểm tiền gửi, cũng như về phía các ngân hàng thương mại - người mua bảo hiểm tiền gửi.

Đối với bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, sự hiện diện của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi ngoại này sẽ tạo áp lực cạnh tranh trực tiếp về thị phần với công ty bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.

Cụ thể, sẽ có một số khách hàng truyền thống của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chuyển sang mua bảo hiểm tiền gửi của bảo hiểm tiền gửi ngoại, do điều kiện bảo hiểm, mức bảo hiểm, cũng như khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm tiền gửi ngoại. Khi đó, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam sẽ phải cân nhắc tăng mức bảo hiểm và cải thiện điều kiện, chất lượng dịch vụ của mình theo hướng thị trường hơn.

Đối với các NHTM, sự cạnh tranh giữ chân người gửi tiền bằng nâng mức chi trả bảo hiểm và lòng tin vào khả năng bảo vệ người gửi tiền cũng gia tăng. Khách hàng – người gửi tiền sẽ có động lực, xu hướng chuyển sang gửi tiền nhiều và dài hạn hơn vào những ngân hàng nào có cam kết mua bảo hiểm tiền gửi cao hơn.

Rõ ràng, việc một ngân hàng đưa ra cam kết mua bảo hiểm tiền gửi lớn hơn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi (lớn hơn 75 triệu đồng) theo quy định của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hiện hành cũng sẽ có lợi thế thu hút và chinh phục lòng tin khách hàng hơn so với ngân hàng khác có mức cam kết thấp hơn, dù lãi suất huy động cao hơn. Điều này đồng nghĩa với sự sụt giảm thị phần và khả năng huy động vốn của ngân hàng nào có mức chi trả bảo hiểm tiền gửi thấp hơn.

Đồng thời, khi mua bảo hiểm tiền gửi cao, các ngân hàng sẽ phải chi trả tiền phí nhiều hơn, tuân thủ nhiều quy định báo cáo và minh bạch tài chính nghiệp vụ ngặt nghèo hơn với công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm tiền gửi. Thậm chí, người gửi tiền cũng có thể sẽ bị giảm lãi suất tiền gửi, còn doanh nghiệp lại phải tăng lãi suất nhận vay tín dụng để bù lại phần chi phí gia tăng của ngân hàng cho mua bảo hiểm tiền gửi theo mức cao tương ứng đó. Cuộc chiến về chia sẻ lợi ích, lợi nhuận, lòng tin gắn với mức phí mua, mức chi trả bảo hiểm tiền gửi. Điều này sẽ gia tăng và sẽ tạo ra nhiều động thái mới trong cơ cấu, hướng chuyển dịch các dòng tín dụng, ngay cả hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng, tổ chức tín dụng.

Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam đang thấp nhất về số tiền tuyệt đối và hầu hết các tiêu chí khác, như hạn mức/GDP bình quân đầu người, tỷ lệ phần trăm người gửi tiền được bảo vệ toàn bộ, tỷ lệ phần trăm giá trị tiền gửi được bảo vệ toàn bộ.

Theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nếu quy ra USD, Thái Lan đang có mức chi trả cho người gửi tiền hơn 709.220 USD, Indonesia 153.257 USD, Malaysia 59.666 USD, Singapore 35.971 USD, Philippines 10.346 USD và Mỹ là 250.000 USD; riêng Anh, Đức và Nhật thực hiểm bảo hiểm đủ 100% tiền gửi dù bất cứ ngân hàng nào của người gửi tiền bị phá sản; còn Việt Nam chỉ khoảng 3.300 USD. Mức bảo hiểm tiền gửi hiện nay chỉ 75 triệu đồng là quá tháp, có thể tiềm ẩn nguy cơ người gửi tiền cá nhân rút tiền hàng loạt tại nhiều TCTD.

Từ đó, có thể dẫn đến đổ vỡ dây chuyền hệ thống các tổ chức tín dụng khác đang là kênh cung ứng tới 90% nguồn vốn sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng, đầu tư… khiến cho nền kinh tế đối mặt nguy cơ suy thoái, tăng trưởng thụt lùi, lạm phát và thất nghiệp tăng cao. Hơn nữa, khi ngân hàng bị phá sản mà không được chi trả đầy đủ tiền gửi, người gửi tiền có thể tụ tập, khiếu kiện đông người gây mất trật tự, an toàn xã hội…

Ngày 8/3/2018 tại Santiago, Chile, 11 nước thành viên (trừ Mỹ) của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã ký kết Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership - CPTPP).

CPTPP tức TPP-11 được coi là Hiệp định thương mại tự do lớn thứ ba thế giới hiện nay; CTPP với tổng dân số 500 triệu người, tổng GDP vượt trên 10.000 tỉ USD, chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và khoảng 14% tổng thương mại thế giới (so với TPP gồm 800 triệu dân, 40% GDP và hơn 30% thương mại toàn cầu).

Kế thừa tinh thần TPP, CPTPP là Hiệp định có những tiêu chuẩn cao, tham vọng, toàn diện và cân bằng với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ tạo ra và duy trì việc làm; tăng cường đổi mới, năng suất, và sức cạnh tranh; nâng cao mức sống; giảm đói nghèo ở các nước ký kết; đồng thời thúc đẩy quản lý hiệu quả, minh bạch, bảo vệ người lao động, bảo vệ môi trường.

CPTPP là kết quả sự nỗ lực vượt qua chính mình của 11 thành viên TPP, khẳng định xu hướng tiếp tục của tự do hóa thương mại đầu tư quốc tế sau khi Mỹ tuyên bố rút lui khỏi TPP, gia tăng các động thái bảo hộ, gây nhiều quan ngại, sự phản đối trên thế giới và ngay trong lòng nước Mỹ. CPTPP gửi đi thông điệp mạnh mẽ về sự cấp thiết và quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, tạo thuận lợi cho phát triển thương mại, tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. CPTPP khi có hiệu lực sẽ thúc đẩy xu hướng hợp tác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; đem lại lợi ích cho tất cả các nước tham gia.

Mục tiêu cuối cùng là mở cửa thương mại và hội nhập cho toàn khu vực. Việc ký kết, thực thi và khai thác CPTPP, cùng với các FTA khác, được kỳ vọng sẽ kéo theo những chuyển dịch mới cả về kinh tế, địa chính trị khu vực và thế giới.

 Theo Reatimes.vn