VN-Index: 950.89 -1.45 -0.15%

GTGD : 3,140.5 tỷ VNĐ

HNX-Index: 106.11 -0.01 -0.01%

GTGD : 412.0 tỷ VNĐ

Trang tin tổng hợp tài chính Việt Nam

Hiểu rõ nội lực, tận dụng thời cơ

Là nền kinh tế có độ mở lớn với 2 thị trường chính là 2 bên của cuộc chiến thương mại, Việt Nam đứng trước những thách thức chưa có tiền lệ. Hiểu rõ nội lực, tận dụng thời cơ từ bên ngoài sẽ là nhân tố quyết định chèo lái kinh tế Việt Nam vượt sóng, hướng tới tăng tốc.
13:14 08/02/2019

 

 

 

Trong bối cảnh động lực chính của kinh tế Việt Nam là tăng trưởng khối FDI đang có dấu hiệu chậm lại thì phát triển khối tư nhân vừa là một nhu cầu tất yếu, vừa cấp bách. Hiểu rõ nội lực và tận dụng thời cơ từ bên ngoài sẽ là những nhân tố quyết định để kinh tế Việt Nam có thể vượt qua sóng gió và tăng tốc.

Đầu xuân Kỷ Hợi, NDH.vn giới thiệu bài viết của ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Chứng khoán SSI, đăng trên tạp chí Project Syndicate - Dự báo 2019 của Thông tấn xã Việt Nam.

Dưới đây là toàn văn bài viết:

Năm 2018 khởi đầu một cách thuận lợi và Việt Nam rất có thể đã chuyển mình cất cánh nếu không bất ngờ xuất hiện 2 làn gió ngược. Samsung giảm sản lượng và chiến tranh thương mại leo thang khiến tăng trưởng đảo chiều. GDP từ chỗ tăng trên 7,4% đã giảm xuống dưới 6,9%. Thị trường tài chính và tiền tệ phản ứng tức thì với các rủi ro gia tăng. VN Index giảm gần 20% và đồng VND mất giá gần 3%. Lần đầu tiên sau nhiều năm, các công cụ tiền tệ phải gồng mình để giữ đồng VND. Lãi suất VND tăng như một tất yếu trong môi trường lãi suất toàn cầu tăng và để bảo vệ đồng nội tệ.

Là một nền kinh tế có độ mở lớn với 2 thị trường chính lại là hai bên của cuộc chiến thương mại, Việt Nam đứng trước những thách thức chưa có tiền lệ. Trong bối cảnh đó, hiểu rõ nội lực và tận dụng thời cơ từ bên ngoài sẽ là nhân tố quyết định để chèo lái kinh tế Việt Nam vượt qua sóng gió, hướng tới lộ trình tăng tốc trong tương lai.

 

Ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán SSI.

 

Hiểu rõ nội lực

Tư duy kích cung thay cho kích cầu

Trước nguy cơ tổng cầu giảm do cả Mỹ và Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, kích cầu trong nước lại được nhắc đến như một giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy kinh tế. Kích cầu đã luôn thường trực trong tư duy phát triển của một bộ phận không nhỏ các chuyên gia trong nhiều năm qua, trong đó kích cầu tiền tệ bằng các gói hỗ trợ lãi suất hay đẩy nhanh tín dụng được viện dẫn nhiều nhất. Tuy nhiên, thực tế trong hơn 10 năm qua đã chứng minh, các giải pháp kích cầu bằng nới lỏng tiền tệ luôn tiềm ẩn rủi ro lớn cho ổn định vĩ mô, là nguyên nhân trực tiếp của lạm phát và nợ xấu.

Một giải pháp kích cầu khác là kích cầu tài khóa. Gia tăng vay nợ để đầu tư cơ sở hạ tầng đã đẩy nợ công của Việt Nam lên rất cao trong khi hiệu quả đầu tư lại chưa tương xứng. Giảm thuế cũng không còn nhiều dư địa khi mà thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đã được giảm từ 25% xuống 20% trong khi thuế xuất nhập khẩu phải giảm theo các cam kết thương mại.

Kích cầu vì vậy không phải là giải pháp khả thi. Thay vào đó Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển dài hạn dựa trên kích cung. Tư duy kích cung sẽ chuyển hóa gánh nặng lâu nay dồn trên vai cơ quan tài chính, ngân hàng sang cho toàn bộ hệ thống chính trị. Công thương, Nông nghiệp, Văn hóa du lịch …. cùng chung tay dưới vai trò điều phối của Chính phủ sẽ tạo ra một sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy nền kinh tế.

Một ví dụ là ngành nông nghiệp. Đứng thứ 2 về giá trị trong GDP chỉ sau công nghiệp chế biến chế tạo, ngành nông nghiệp chỉ tăng trưởng 2-3% một năm, trở thành một sức ỳ cho tăng trưởng chung. Hạn chế về quy mô sản xuất và thị trường xuất khẩu đã khiến ngành nông nghiệp rất khó bứt phá. Chính vì vậy mà các quy định mới về hạn điền, về hỗ trợ xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp sẽ rất cần thiết để vực dậy ngành nông nghiệp Việt Nam.

 

Phát triển khối tư nhân

Trong 9 tháng đầu năm 2018, tăng trưởng vốn đầu tư của khối tư nhân là 17,7%, hơn gấp đôi khối FDI là 8,4% trong khi khối Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) giảm 7,8%. Tăng trưởng vốn đầu tư của khối tư nhân đã liên tục đạt trên 16% trong hơn 1 năm cho thấy sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo một xu hướng hoàn toàn mới. Không phải ngẫu nhiên mà xu hướng này xuất hiện cùng thời điểm ra đời của Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế tư nhân, tháng 6/2017.

Khối tư nhân vốn là khối kinh tế năng động và hiệu quả cao, chiếm tới 84% GDP của các nước đang phát triển. Tuy vậy, ở Việt Nam tỷ lệ này mới chỉ là 40%. Phát triển khối tư nhân là một nhu cầu vừa tất yếu, vừa cấp bách trong bối cảnh tăng trưởng của khối FDI, động lực chính của kinh tế Việt Nam đang chậm lại.

Tư duy kích cung cùng với định hướng phát triển khối tư nhân đưa đến một lời giải rất cơ bản cho bài toán phát triển kinh tế, đó là hỗ trợ doanh nghiệp.

Hỗ trợ doanh nghiệp, một khẩu hiệu dễ hơn một hành động, cần có một chiến lược tổng thế với các giải pháp thấu đáo để vừa tối đa hóa được nguồn lực và vừa tạo sức lan tỏa cao. Vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp cần chú ý tới 2 khía cạnh.

Thứ nhất là phát triển hạ tầng, bao gồm hạ tầng cứng như giao thông vận tải, năng lượng và hạ tầng mềm, là cải cách thể chế, chính sách, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho mọi doanh nghiệp phát triển.

Thứ hai là bồi dưỡng phát triển “Đàn Sếu Lớn”, là các doanh nghiệp mạnh, có sức cạnh tranh cao trong nước cũng như ở tầm quốc tế, từ đó hình thành một tập hợp các đầu tàu kéo tăng trưởng.

 

Phát triển thị trường vốn

Xét về tính hiệu quả, dòng tiền qua thị trường vốn “thông minh” hơn so với tín dụng do việc thuyết phục số đông các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường khó hơn thuyết phục một số cán bộ ngân hàng. Dòng tiền thông qua thị trường vốn vì vậy sẽ đến được các dự án chất lượng cao hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho toàn xã hội.

Trong rất nhiều nhu cầu của doanh nghiệp, nhu cầu về vốn luôn chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu, đặc biệt trong giai đoạn phát triển nhanh. Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn sẽ tạo ra động lực phát triển cho doanh nghiệp và vì vậy có thể coi thị trường vốn là một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Mặc dù có vai trò quan trọng, thị trường vốn hiện vẫn còn chưa ở tầm vóc tương xứng. Ngành ngân hàng và bất động sản đang chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường cổ phiếu trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn rất sơ khai.

Phát triển thị trường vốn vì vậy cần phải được đẩy nhanh với một lộ trình gấp rút trong đó tăng cường tính minh bạch, tăng số lượng doanh nghiệp niêm yết và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp là những nội dung cần ưu tiên.

Ví dụ ở thị trường trái phiếu doanh nghiệp, điểm nghẽn ở cơ quan xếp hạng tín nhiệm có thể được xử lý nhanh nếu lập liên danh giữa các đơn vị xếp hạng như S&P, Moody với các đối tác Việt Nam như CIC hay VBMA. Liên danh này sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường về một cơ quan xếp hạng vừa có thương hiệu quốc tế và vừa có chiều sâu thông tin của Việt Nam.

Tận dụng thời cơ

Thị trường xuất khẩu

Xuất khẩu luôn là một ưu tiên trong chính sách phát triển của Việt Nam. Tư duy kích cung kết hợp với định hướng xuất khẩu toàn cầu chính là chìa khóa để Việt Nam đạt tăng trưởng cao và bền vững. Khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung nổ ra, xuất khẩu của Việt Nam đang chịu tác động ở cả hai mặt. Ở mặt tiêu cực, tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc sẽ làm giảm nhu cầu với hàng hóa Việt Nam. Xuất khẩu rau quả, thủy sản và khách du lịch Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng chậm lại. Ở mặt tích cực, cơ hội cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường Mỹ là trong tầm tay nếu cán cân thương mại Việt – Mỹ được điều hòa một cách hợp lý.

Dệt may là một ví dụ cho khả năng tận dụng cơ hội. Ngành dệt may trong năm 2018 đã tăng tốc ngoạn mục với tốc độ tăng trưởng 10 tháng lên tới 11,6%, gấp đôi cùng kỳ 2017. Có được mức tăng trưởng này là nhờ các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã tận dụng được cơ hội khi Trung Quốc cắt giảm sản lượng, bỏ ngỏ các thị trường xuất khẩu quan trọng. Tăng trưởng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Mỹ và Nhật trong 10 tháng năm 2018 là 11,7% và 24,1% trong khi năm 2017 tăng 7,5% và 7%.

Ngành dệt may cho thấy nếu tận dụng được thời cơ thì các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sẽ có tăng trưởng vượt bậc nhờ cơ hội thị trường mở ra rất lớn so với quy mô sản xuất hiện tại. Ngoài chiến tranh thương mại Mỹ - Trung thì CPTPP cũng sẽ mang đến nhiều cơ hội tốt cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

Dòng vốn FDI

Trong các năm 2014 đến 2015, Việt Nam đã tận dụng tốt dòng vốn FDI mà điển hình là các dự án lớn của Samsung, LG để từ đó tạo ra động lực tăng trưởng cao cho các năm 2016 và 2017. Tuy vậy dòng vốn FDI đang chậm lại với giải ngân FDI trong 10 tháng 2018 chỉ còn tăng 6%, bằng một nửa so với cùng kỳ. Là khối có đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế, có lợi thế hơn hẳn về công nghệ và thị trường so với khối tư nhân, sự chậm lại của khối FDI là một thách thức không nhỏ.

Trong nguy có cơ, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đang khiến nhiều nhà sản xuất muốn chuyển nhà máy ra khỏi Trung Quốc. Đông Âu, Châu Mỹ Latin và Châu Á đều là những địa điểm mà những nhà sản xuất này cân nhắc.

Với lợi thế nhân công giá rẻ và mới đây là CPTPP, Việt Nam đang có một sức hút nhất định. Dẫu vậy vẫn cần phải thấy rằng những cải cách triệt để về môi trường đầu tư mới là điểm mấu chốt để thuyết phục dòng vốn FDI vào Việt Nam.

Trong cải cách môi trường đầu tư, chính sách ưu đãi và chiến lược phát triển đặc khu kinh tế là hai điểm cần nghiên cứu kỹ lưỡng. Khi Samsung được nhận các ưu đãi dành cho dự án đầu tư quy mô lớn, đã có nhiều ý kiến trái chiều. Tuy vậy đóng góp của Samsung cho kinh tế Việt Nam trong những năm qua cho thấy các chính sách ưu đãi cho Samsung là hợp lý. Với đặc khu kinh tế, một ý tưởng tốt nhưng kế hoạch triển khai tồi sẽ không chỉ làm giảm hiệu quả mà còn gây lãng phí cho cả tài nguyên và ngân sách.

 

Dòng vốn FII

FED tăng lãi suất và chiến tranh thương mại đang khiến các tài sản rủi ro trở nên kém hấp dẫn. Dòng vốn rút khỏi các thị trường mới nổi bắt đầu khi đồng USD lên giá vào tháng 4/2018 và sau đó tăng tốc khi nổ ra chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Dòng vốn này sẽ còn lâu mới quay trở lại do trong con mắt của giới đầu tư quốc tế, tăng lãi suất và chiến tranh thương mại sẽ còn kéo dài.

Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt để tận dụng dòng vốn FII còn sót lại, thu hút FII đòi hỏi phải có một cách tiếp cận mới. Bên cạnh câu chuyện thường kể về một quốc gia đông dân đang phát triển thì Việt Nam có hai câu chuyện rất đặc biệt đó là nâng hạng thị trường và thoái vốn nhà nước.

Nếu nâng hạng là minh chứng cho một sự thay đổi lớn về chất của thị trường chứng khoán Việt Nam thì thoái vốn nhà nước là cơ hội “nghìn năm có một’ cho nhà đầu tư nước ngoài bởi trên thế giới còn rất ít quốc gia có nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn như Việt Nam. Vinamilk hay Sabeco là những ví dụ cho thấy nếu có chiến lược tiếp cận thị trường đúng thì cả bên Việt Nam và bên nước ngoài đều thành công trong một thương vụ thoái vốn.

Dòng vốn FII vào nhanh và cũng có thể ra nhanh nhưng trong nhiều năm qua cho thấy dòng FII vào vẫn là chủ đạo. FII mang đến dòng ngoại tệ thực chất, giúp nâng thặng dư cán cân thanh toán tổng thể và tạo nguồn lực mạnh hỗ trợ phát triển thị trường vốn. Với ý nghĩa này, khi cạnh tranh thế giới càng tăng thì Việt Nam càng phải quyết tâm để tiếp tục thúc đẩy thu hút FII.

Thế giới đã sang một trang mới, không còn bình lặng và cũng không dễ đoán định. Chấp nhận cuộc chơi toàn cầu, con thuyền Việt Nam sẽ phải đương đầu với nhiều sóng gió. Một thuyền trưởng tốt sẽ giúp con thuyền xuôi theo chiều gió và vượt nhanh về phía trước. Ngược lại, mọi sai lầm sẽ phải trả giá. Hơn lúc nào hết, đây là thời điểm để chứng minh bản lĩnh của những nhà làm chính sách, những người chèo lái con thuyền Việt Nam, nơi chứa đựng cuộc sống của 96 triệu người dân và ước vọng về một quốc gia có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Theo Nguyễn Duy Hưng - Chủ tịch HĐQT Chứng khoán SSI, Người Đồng Hành