VN-Index: 850.74 -4.31 -0.50%

GTGD : 4,714.6 tỷ VNĐ

HNX-Index: 116.23 -0.64 -0.54%

GTGD : 539.3 tỷ VNĐ

Trang tin tổng hợp tài chính Việt Nam

Dự án nhà máy nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang: EVN “đá” trách nhiệm trong dự án tỷ đô

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có 2 văn bản nội dung thiếu đồng nhất liên quan đến đề nghị của Công ty Cổ phần Nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang.
16:21 04/06/2020
Ảnh phối cảnh được cho là của dự án Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang. Ảnh: ITN

Ở văn bản đầu, EVN cho rằng mức Qc = 90% là “có thể chấp nhận được” nhưng văn bản thứ 2 lại cho rằng, nếu cấp mức Qc trên sẽ tạo tiền lệ “gây khó khăn cho công tác vận hành hệ thống”.

Đề nghị của An Khánh – Bắc Giang là “có thể chấp nhận được”

Công văn số 68, ngày 24/6/2019 của Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang gửi Bộ Công Thương có nội dung: “Đề nghị Bộ Công Thương phê duyệt điều kiện tại (ii); sản lượng điện tối thiểu Qc = 90% sản lượng điện bình quân nhiều năm của dự án, ổn định trong thời gian 10 năm kể từ ngày phát điện thương mại. Trường hợp nhà máy sẵn sàng phát điện mà EVN không huy động thì EVN thanh toán tiền điện cho nhà máy bằng Qc nói trên”.

Tại thời điểm này, quyền quyết định cấp Qc cho đơn vị sản xuất điện do Bộ Công Thương nắm giữ. Việc Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang gửi Bộ Công Thương là đúng quy trình và thẩm quyền.

Căn cứ trên nội dung công văn này, ngày 5/7/2019, Cục Điều tiết điện lực – Bộ Công Thương có Công văn gửi EVN để tham vấn về hợp đồng mua bán điện của Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang. Căn cứ trên công văn của Cục Điều tiết điện lực, ngày 18/7/2019, EVN có Công văn số 3762/EVN-TTĐ trả lời với các lập luận chặt chẽ, chứng minh đề xuất của An Khánh – Bắc Giang là phù hợp.

Cụ thể: “Thông tư thị trường điện hiện hành quy định tỷ lệ sản lượng hợp đồng Qc do Bộ Công Thương, Cục Điều tiết điện lực phê duyệt hàng năm trên cơ sở nhu cầu huy động nhà máy tạo nên rủi ro nhất định đối với bên cho vay phát triển dự án và khó thu hút đầu tư vào các nguồn điện mới. Tỷ lệ sản lượng hợp đồng Qc đề nghị (=90%) bằng tỷ lệ sản lượng hợp đồng đối với các các nhà máy nhiệt điện giai đoạn 2013 – 2017, nhưng cao hơn so với năm 2018 (=85%), 2019 (=80%), tuy nhiên kế hoạch 2018, 2019 áp dụng chung cho tất cả các nhà máy điện đang vận hành bao gồm cả các nhà máy đã có hết trả nợ gốc, có lợi nhuận.

Việc áp dụng chung tỷ lệ sản lượng điện hợp đồng đối với các nhà máy tạo sự bất lợi lớn đối với các nhà máy điện mới (thường có chi phí, giá thành cao hơn, chịu áp lực trả nợ vay” so với các nhà máy cũ (giá thành thấp hơn, không phải trả nợ hoặc áp lực trả nợ thấp hơn)… Đặc biệt trong giai đoạn 2020 trở đi khi số lượng các nguồn điện mới không nhiều. Dự kiến Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang sẽ đi vào vận hành giai đoạn 2023 - 2024 trong giai đoạn hệ thống điện có thể thiếu nguồn”.

EVN cũng nêu, căn cứ tính toán theo báo cáo của Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia (A0) và kết luận “số giờ vận hành Tmax giai đoạn 2025 - 2030 của Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang trên 6.500 giờ/năm vận hành thương mại, tương đương số giờ quy định áp dụng đối với nhà máy điện than”.

Về cơ sở tính toán đề xuất “bảo lãnh” Qc = 90% trong 10 năm, EVN nêu căn cứ rằng, tại Công văn số 3942/BCT-ĐTĐL ngày 5/6/2019 về hợp đồng mua bán điện của các nhà máy điện mới sử dụng khí LNG, Cá Voi Xanh và lô B, Bộ Công Thương yêu cầu các dự án được cơ quan Nhà nước cho phép chuyển ngang giá khí, sản lượng bao tiêu từ hợp đồng mua bán khi sang hợp đồng mua bán điện thì điều khoản về Qc tương ứng với sản lượng khí bao tiêu và hiện các dự án đang đề nghị sản lượng bao tiêu là 90%. Tỷ lệ bao tiêu trên bằng tỉ lệ do CĐT An Khánh – Bắc Giang đề nghị. Tuy nhiên, các nhà máy điện khí đề nghị áp dụng cả đời dự án (20 – 25 năm) thay vì trong thời hạn trả nợ gốc vay (10 năm) của Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang.

Từ những căn cứ ngắn hạn và dài hạn nêu trên, EVN khẳng định đề xuất là có thể chấp nhận được. “Việc huy động Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang với sản lượng điện cao trong các năm tới là cần thiết, do vậy, đề xuất của Công ty Cổ phần Nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang là có thể chấp nhận được. Ngày 3/4/2019, EVN đã có Văn bản số 1723/EVN-TTĐ báo cáo ERAV về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng mua bán điện Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang với tỉ lệ sản lượng hợp đồng Qc bằng 90% sản lượng điện bình quân nhiều năm trong thời hạn trả nợ vay nằm ngoài thẩm quyền của EVN, do vậy EVN kiến nghị Bộ Công Thương, Cục Điều tiết điện lực có giải pháp để dự án triển khai theo đúng quy hoạch, bảo đảm an ninh cung cấp điện dài hạn”, trích nội dung văn bản của RVN gửi Bộ Công Thương.

EVN đẩy trách nhiệm cho Bộ Công Thương?

Ngày 14/11/2019, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 24/2019/TT-BCT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2018. Thông tư này hướng dẫn chi tiết các đơn vị trong công tác đàm phán, thỏa thuận Qc. Từ 1/1/2020, đơn vị phát và mua điện có trách nhiệm thỏa thuận, thống nhất và quy định trong hợp đồng mua bán điện về tỷ lệ sản lượng điện năng thanh toán theo giá hợp đồng hoặc sản lượng điện hợp đồng năm (hoặc nhiều năm). Ngày 19/11/2019, Bộ Công Thương có văn bản với nội dung đề nghị EVN đàm phán giá điện với Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang dựa trên Thông tư số 24/2019/TT-BCT vừa mới ra.

Theo Thông tư số 24/2019/TT-BCT, EVN là đơn vị có quyền và trách nhiệm đàm phán với Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang. Điều này cũng đồng nghĩa, EVN tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về con số đề xuất Qc = 90% của An Khánh – Bắc Giang.

Sau thời điểm được giao quyền tự quyết đề đàm phán Qc với chủ đầu tư, EVN chưa ký văn bản đồng ý với đề nghị của Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang. Thế nhưng, EVN lại có Văn bản số 551/EVN-TTĐ ngày 4/2 với nội dung trái ngược so với Văn bản số 3762/EVN-TTĐ.

Nội dung Văn bản số 551/EVN-TTĐ nêu rõ: “Đề nghị của An Khánh – Bắc Giang không trái quy định Thông tư 24/2019/TT-BCT ngày 14/11/2019 của Bộ Công Thương (đơn vị phát điện và đơn vị mua điện có trách nhiệm thỏa thuận, thống nhất và quy định trong hợp đồng mua bán điện về tỷ lệ sản lượng điện năng thanh toán theo giá hợp đồng trong khoảng 60 đến 100% sản lượng hợp đồng năm hoặc từng năm trong chu kỳ nhiều năm).

Tuy nhiên việc thỏa thuận sản lượng hợp đồng như đề nghị của An Khánh – Bắc Giang có thể tạo tiền lệ cho các nhà đầu tư khác, đặc biệt các dự án có yêu cầu vay vốn lớn. Nếu tất cả các dự án nhà máy điện đều yêu cầu sản lượng hợp đồng như đề nghị của An Khánh – Bắc Giang sẽ gây khó khăn cho công tác vận hành hệ thống và thị trường điện các năm tới cũng như việc chuyển đổi sang các giai đoạn tiếp theo của thị trường điện. Do vậy, Tập đoàn Điện lực Việt Nam kính đề nghị Bộ Công Thương, Cục Điều tiết điện lực xem xét hướng dẫn giải quyết kiến nghị của Công ty Cổ phần Nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang về sản lượng hợp đồng Nhà máy điện An Khánh”.

Cả 2 văn bản trên đều do ông Ngô Sơn Hải, Phó tổng Giám đốc EVN ký.

Tại sao khi EVN chưa được giao quyền đàm phán thì đồng ý với đề nghị Qc = 90% của Nhà máy điện An Khánh – Bắc Giang. Đến khi đã có thực quyền, EVN lại “nấn ná” trong việc đồng ý với dự án tỷ đô tại Bắc Giang. Được EVN “đá” quả bóng trách nhiệm vào chân, Bộ Công Thương sẽ xử lý thế nào?

Cách xác định Qc trong thị trường điện

Trong giai đoạn đầu của thị trường cạnh tranh (2012 – 2018), chỉ có một đơn vị mua buôn điện duy nhất là EVN. Để bảo đảm quyền lợi cho bên bán điện, sản lượng Qc của nhà máy điện sẽ được Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia tính toán hàng năm căn cứ vào: (1) sản lượng điện kế hoạch dự kiến năm tới của nhà máy điện; (2) tỷ lệ anpha sản lượng thanh toán theo giá hợp đồng áp dụng chung cho các nhà máy theo loại hình công nghệ.

Từ 2019 thị trường bán buôn điện chuyển sang giai đoạn cạnh tranh. Lúc này EVN không còn là đơn vị mua buôn duy nhất trên thị trường điện. Đã có thêm sự tham gia của 5 tổng công ty điện lực. Do đó, sản lượng Qc trong thị trường điện nhiều người mua sẽ đúng định hướng là sản lượng do hai bên tự thỏa thuận, thống nhất.

Theo Giáo dục và Thời đại

https://giaoducthoidai.vn/du-an-nha-may-nhiet-dien-an-khanh-bac-giang-evn-da-trach-nhiem-trong-du-an-ty-do-20200604100444037.html