VN-Index: 983.17 +13.77 +1.42%

GTGD : 2,784.7 tỷ VNĐ

HNX-Index: 111.98 +1.82 +1.65%

GTGD : 478.0 tỷ VNĐ

Trang tin tổng hợp tài chính Việt Nam

Dự án khách sạn 5 sao 12 Trần Phú: Sao không thoả thuận đền bù cho dân?

Sau quyết định thu hồi lô đất 12 Trần Phú, Hải Phòng giao cho Công ty Nhật Hạ xây dựng khách sạn 5 sao, đến nay vẫn còn 9 hộ dân khiếu nại lên cơ quan thẩm quyền cao hơn để đòi bồi thường. Hàng loạt câu hỏi vì sao đã được người dân gửi lên các cơ quan có thẩm quyền và mong muốn nhận được câu trả lời thoả đáng.
09:38 01/06/2018

Sau khi Dân Việt đăng tải loạt bài về dự án xây dựng khách sạn 5 sao tại số 12 Trần Phú, Hải Phòng và Công ty Nhật Hạ làm chủ đầu tư nhiều bạn đọc quan tâm đặt câu hỏi: Vì sao thu hồi đất làm khách sạn 5 sao để kinh doanh mà lại không để doanh nghiệp tự thỏa thuận với người dân? Vì sao các hộ dân ở đây là các thầy cô giáo đã ở ổn định, lâu dài, không tranh chấp với ai mà lại không được bồi thường về đất ở?...

Để có câu trả lời, Dân Việt đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Kiến Hình, Văn phòng Luật sư Hải Thành, Đoàn Luật sư TP. Hải Phòng để tìm câu trả lời.

 du an khach san 5 sao 12 tran phu: sao khong thoa thuan den bu cho dan? hinh anh 1

Quyết định 808 cùa UBND thành phố giao đất cho Trường Trần Phú

Luật sư Nguyễn Kiến Hình cho biết: Điều 62 Luật Đất đai 2013 quy định Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:

1. Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;

2. Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:

a) Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); b) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; c) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;

3. Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:

 a) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;

 b) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;

c) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;

d) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

 đ) Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.

Về căn cứ để thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng, Luật sư Nguyễn Kiến Hình chia sẻ: Theo Điều 63 Luật Đất đai 2013, việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây:

1. Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này;

2. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Về điều kiện để được bồi thường đất ở, Luật sư Nguyễn Kiến Hình cho biết: Điều 79 Luật Đất đai 2013 và khoản 1, điều 6 NĐ 47/2014/NĐ-CP ngày 15.5.2014 của Chính Phủ hướng dẫn chi tiết việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định các trường hợp được bồi thường về đất khi nhà nước thu hôi đất gồm: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Vậy, như thế nào là đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Luật sư Nguyễn Kiến Hình cho biết, các trường hợp đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở mà không có các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được qui định tại Điều 101 Luật Đất đai 2013 và được Chính phủ qui định chi tiết tại điều 20, 21, 22, 23 Nghị định 43/2014 NĐ- CP ngày 15.5.2014, có sửa đổi bổ sung tại khoản 18, 19 Điều 2 Nghị định số 01/2017 NĐ-CP ngày 6.1.2017 của Chính phủ.

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến phần trả lời cụ thể của Luật sư Nguyễn Kiến Hình về trường hợp các hộ gia đình, cá nhân được giao không đúng thẩm quyền được qui định tại Điều 23 Nghị định số 43/ NĐ- CP ngày 15.5.2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013 như sau:

1. Đất giao không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều này bao gồm các trường hợp người đứng đầu điểm dân cư giao đất hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ; tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng nhưng đã tự phân phối, bố trí cho cán bộ, công nhân viên, xã viên để sử dụng làm nhà ở và các mục đích khác.

2. Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất đã được giao theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị định này.

3. Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 của Nghị định này.

Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở hoặc công trình xây dựng khác thì diện tích còn lại không có nhà ở, công trình xây dựng được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng đang sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất.

4. Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

“Như vậy, điều kiện cần và đủ để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được qui định trong điều này là đất sử dụng ổn định trước ngày 15.10.1993, không có tranh chấp và phải phù hợp với quy hoạch”, Luật sư Nguyễn Kiến Hình nhấn mạnh.

Theo Dân Việt